Giáo dục là quan trọng, là không thể thiếu ở mọi quốc gia, mọi thời đại. Nó càng cần thiết hơn ở các quốc gia mà dân trí và nền khoa học chưa phát triển. Ở những nơi như thế, giáo dục không thể bị coi thường, nghiên cứu khoa học không thể đặt hàng thứ yếu.

Đất nước chúng ta, Việt Nam, hẳn là không cần nói thật nhiều, dẫn chứng thật nhiều thì độc giả cũng đều đã biết rằng: chúng ta là một quốc gia có nền khoa học kĩ thuật chậm phát triển. Trong một bài khác, tôi đã từng nói nhiều về tầm quan trọng của giáo dục với nhận thức và tư duy, cũng đã nói về vai trò không thể thiếu của khoa học và giáo dục khoa học. Hôm nay tôi lại nói về khoa học và giáo dục, nhưng không phải một cách tổng quát và chung chung, mà cụ thể về vai trò của khoa học và giáo dục đối với xã hội ta ngày nay, và tại sao tôi và những người bạn của mình đã lựa chọn con đường khoa học, giáo dục.

Tôi sinh ra vào những năm đầu của thập kỉ 1980 (80s). Có lẽ đó cũng là cái may mắn, vì những người sinh ra ở giai đoạn đó, hoặc trước đó một vài năm là những người chứng kiến một cách rõ ràng nhất, đầy đủ nhất về cái thời điểm mà người ta thường gọi là “giao thời”. Chúng tôi trải qua vài năm tháng cuối cùng của thời bao cấp, tận hưởng tuổi thơ ở những năm đầu của thời kì mà người ta gọi là đổi mới. Chúng tôi may mắn hơn những người ở thế hệ đi trước vì chúng tôi được đọc những cuốn truyện tranh đầu tiên, chơi những game đầu tiên với tất cả những cảm xúc của tuổi thơ mà thế hệ trước đã không thể có. Chúng tôi may mắn hơn thế hệ sau một chút (các bạn trẻ sinh ra vào cuối những năm 1980 trở về sau) vì tuổi thơ của họ không được chứng kiến đầy đủ những biến chuyển ghê gớm như thế hệ của chúng tôi. Chúng tôi đủ “già” để cảm nhận sự cách biệt của hai thời đại và biết nuối tiếc những năm tháng đã qua khi mà thế giới xung quanh từng rất khác, chúng tôi cũng đủ “trẻ” để tiếp thu được đầy đủ những tiến bộ của khoa học, kĩ thuật và những đổi thay của xã hội.

Như tôi vừa nói rằng thế hệ của tôi lớn lên trong thời kì “đổi mới”, thế nên nền giáo dục mà chúng tôi được hưởng trong những năm đầu (có lẽ gồm cả cấp 1 và cấp 2 trong chương trình giáo dục) là nền giáo dục của những năm “đổi mới”. Ở nền giáo dục đó, người ta dạy chúng tôi về giá trị của lao động sản xuất, không chỉ các bài học ở trường mà đến cả các chương trình truyền hình, phát thanh, các tờ báo cũng luôn đề cao các tấm gương lao động, những đơn vị sản xuất hiệu quả. Điều này là hợp lý với một đất nước đang ở giai đoạn còn quá khó khăn về kinh tế. Tôi nói là quá khó khăn vì tới tận những năm 1991, 1992 thì có cái TV màu đã là khá giả, tới 1994, 1995 cũng chỉ một phần nho nhỏ người dân có xe máy. Thế nên đề cao sản xuất là đúng, tôn vinh lao động là đúng lắm.

Thế nhưng, khi những năm khó khăn qua đi, khi đến thế hệ của những người trẻ hơn, những người đã không còn chứng kiến hoặc chứng kiến không đủ nhiều để hiểu được những gì từng diễn ra ở cái thời kì đầu đổi mới đó, thì nền giáo dục cũng có những biến chuyển theo, và lại theo một hướng mà theo tôi là không còn đúng nữa. Khi nói tới nền giáo dục, tôi không chỉ nói tới các trường lớp, tôi còn nói tới giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phải chăng người ta thấy sản xuất đã đủ rồi khi mà khoảng sau năm 2000 hay 2002 gì đó là TV, tủ lạnh, xe máy đã là những vật dụng hết sức bình dân, qua năm 2005, 2006 thì máy tính và các tiện ích mạng thậm chí trở thành đồ chơi của trẻ em, nên người ta nghĩ không cần sản xuất nữa? Tôi không lên án những tiện nghi của cuộc sống, vì chính tôi cũng đang hưởng những tiện nghi đó và bản thân tôi, thấy chúng thật tuyệt diệu. Chỉ có điều, khác với những năm trước đó, người ta đã bỏ qua việc dạy cho trẻ em, dạy cho những người trẻ cách tạo ra những tiện nghi đó như thế nào. Trước đây, để tạo ra lúa gạo, tạo ra chiến bàn, chiếc ghế người ta chỉ cần một lượng kiến thức không nhiều mà chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và kinh nghiệm tích lũy được. Nhưng để tạo ra chiếc máy tính, chiếc điện thoại di động, … thì người ta còn cần một lượng kiến thức rất lớn khác nữa: những kiến thức tới từ quá trình nghiên cứu khoa học…

Trong thế giới hiện đại, một xã hội không có nền khoa học tốt thì tất sẽ không có những kĩ sư giỏi, và không có những kĩ sư giỏi thì hẳn là không có những sản phẩm có giá trị. Kết quả như chúng ta đã nhìn thấy: các sản phẩm công nghệ cao đều được nhập ngoại, thậm chí những thứ tưởng như đơn giản như quần áo, giầy dép mà người ta cũng đã đánh mất niềm tin vào sản phẩm trong nước. Sẽ có người nói “ồ, có gì lạ đâu, dân ta vốn sính ngoại”. Không sai, nhưng chưa đúng, một sự thật chúng ta cần nhìn thấy là các sản phẩm trong nước có chất lượng quá thấp. Và kết quả của việc nền sản xuất ngày càng kém là lạm phát, là khủng hoảng kinh tế. Tôi không phải một chuyên gia về kinh tế, nhưng tôi cũng đủ kiến thức và tư duy để thấy thật hài hước khi nghe người ta ngụy biện rằng “kinh tế nước ta khủng hoảng do ảnh hưởng của kinh tế thế giới”. Trong một xã hội đặt hoạt động thương mại lên hàng đầu, người ta thi nhau cho con em thi vào các trường đào tạo ngành kinh tế, thương mại. Nhiều lúc tôi không hiểu những trường đó đang “dạy” hay là chỉ “dỗ” để mỗi năm có không biết bao nhiêu nghìn cử nhân kinh tế ra trường mà không hiểu một điều hiển nhiên: Một xã hội không có nền sản xuất thì lạm phát là điều tất yếu phải đến.

Một xã hội sản xuất kém, trước hết là vì khoa học kĩ thuật đã bị coi thường, bị đặt xuống thứ yếu. Và lý do mà khoa học, như tôi từng nói trước đây là nền tảng của nhận thức con người và văn minh xã hội, lại bị coi thường như vậy, là do giáo dục nhận thức còn quá kém.

Tràn ngập các trường học của chúng ta là những người thầy yêu cầu học sinh học tủ chỉ để đi thi, yêu cầu “nhớ cái này” chỉ vì “thi sẽ có nó”. Tràn ngập các phương tiện truyền thông của chúng ta là những chương trình giải trí, tôn vinh những giá trị mà tôi xin nói thẳng ra là … phi trí tuệ. Ở một xã hội như vậy khoa học sẽ không thể phát triển, và không thể phát triển khoa học thì xã hội đó sẽ còn nghèo, còn dốt.

Để thay đổi một xã hội như vậy, trước hết cần có những người làm giáo dục chân chính, những người thầy đích thực.

Gắn bó với khoa học đã hơn 10 năm, tôi luôn đi theo một mục đích lớn nhất, một tôn chỉ cao nhất của mình là phổ biến kiến thức của mình tới những ai còn chưa biết tới nó. Và khi nhận thức thật sâu sắc khoa học sẽ còn tiếp tục bị vùi trong bóng tối khi mà người ta còn chưa thật nhìn nhận giáo dục một cách nghiêm túc, thì tôi lại càng quyết tâm kết hợp con đường khoa học của mình với con đường giáo dục. Tôi không dám chắc tôi sẽ thành công, tôi không dám tuyên bố tôi tài năng và vĩ đại hơn những người thầy trong những ngôi trường kia, vì sự thực tôi cũng chưa làm được nhiều. Nhưng tôi tin tưởng vào con đường mà tôi đã lựa chọn, và tôi lựa chọn nó là vì một say mê, một niềm tin. Con đường của tôi và những người yêu khoa học, giáo dục chắc chắn sẽ còn rất nhiều khó khăn, và tôi vẫn đang chờ đợi những đồng nghiệp, cộng sự mới, những người dám chiến đấu và cống hiến cho sự nghiệp khoa học và giáo dục Việt Nam.

Đặng Vũ Tuấn Sơn

Chủ tịch Hội thiên văn học trẻ Việt Nam

Uỷ viên thường vụ CLB Trí thức trẻ Hà Nội